“Mệnh Kim” mà lại “cung Cấn”: phân biệt mệnh nạp âm với cung phi bát trạch
Mục Tính cung mệnh đã có bài về tính từng bước, lập bảng cho cả nhà, bảng dùng vào việc gì, tra ra hai kết quả khác nhau, giờ sinh, và sinh sát giao thừa. Bài này gỡ một chỗ lẫn rất phổ biến: hai thứ khác nhau cùng được gọi là “mệnh”.
Một ví dụ quen: người nữ sinh năm 1984 đi mua vòng tay, được bảo “chị mệnh Kim, hợp màu trắng vàng”. Về nhà xem hướng, lại được bảo “chị cung Cấn, hành Thổ, thuộc tây tứ mệnh”. Hai câu nghe như mâu thuẫn. Thật ra chúng đến từ hai hệ khác nhau, tính bằng hai cách khác nhau.
Mệnh nạp âm: tính theo cặp can chi của năm sinh
Lục thập hoa giáp gồm sáu mươi cặp can chi, từ Giáp Tý tới Quý Hợi. Hệ nạp âm gán cho từng cặp hai năm liền nhau một hành kèm tên gọi hình ảnh. Ví dụ:
- Giáp Tý, Ất Sửu: Hải Trung Kim (vàng trong biển).
- Bính Dần, Đinh Mão: Lư Trung Hoả (lửa trong lò).
- Mậu Thìn, Kỷ Tỵ: Đại Lâm Mộc (cây rừng lớn).
Sáu mươi năm có ba mươi tên nạp âm. Mệnh nạp âm không phụ thuộc giới tính: nam hay nữ sinh cùng năm đều chung một mệnh nạp âm. Người sinh năm Giáp Tý (1984) mang mệnh Hải Trung Kim, nên hay được gọi tắt là “mệnh Kim”.
Cung phi bát trạch: tính theo năm sinh và giới tính
Hệ cung phi (cung mệnh trong Bát Trạch) gán cho mỗi người một trong tám quẻ: Khảm, Khôn, Chấn, Tốn, Càn, Đoài, Cấn, Ly. Cách tính dựa trên năm sinh và giới tính: nam và nữ cùng năm thường ra hai cung khác nhau. Mỗi quẻ có một hành: Khảm Thuỷ, Ly Hoả, Chấn và Tốn Mộc, Càn và Đoài Kim, Khôn và Cấn Thổ. Mục này đã có bài tính cung mệnh từng bước.
Theo cách tính thông dụng, nữ sinh năm 1984 ra cung Cấn, hành Thổ, thuộc nhóm tây tứ mệnh; nam sinh năm 1984 ra cung Đoài, hành Kim.
Vì sao một người có hai “hành”
Vì hai hệ đặt câu hỏi khác nhau và được dùng cho những việc khác nhau. Nạp âm là một lớp phân loại năm sinh theo ngũ hành, gắn với những hình ảnh mang tính thơ ca. Cung phi là cách xếp người vào một trong tám quẻ để đối chiếu với tám hướng của Bát Trạch. Không có lý do gì để hai hệ phải cho cùng một hành; trùng là tình cờ.
Mỗi hệ dùng vào việc gì
- Nạp âm thường được dùng trong xem tuổi hợp khắc (vợ chồng, làm ăn), chọn màu sắc, chọn vật phẩm theo “mệnh”, đặt tên. Đây là “mệnh” mà người bán vòng tay, đá hợp mệnh hay nhắc.
- Cung phi được dùng trong Bát Trạch: xác định bốn hướng tốt, bốn hướng xấu của người để đặt giường, bàn làm việc, cửa, bếp.
🔴 Đừng lấy hành của hệ này để áp vào việc của hệ kia
Đây là phần quan trọng nhất của bài. Lỗi hay gặp:
- Lấy “mệnh Kim” theo nạp âm rồi đi tra hướng tốt theo Bát Trạch cho “người mệnh Kim”. Bát Trạch không dùng nạp âm; phải tra theo cung phi.
- Lấy cung phi “Cấn Thổ” rồi đi chọn màu vòng tay theo hành Thổ, trong khi người bán và sách màu sắc lại dùng nạp âm.
- Trộn cả hai rồi kết luận “tôi vừa hợp Kim vừa hợp Thổ, chọn màu nào cũng được” hoặc ngược lại “tôi khắc chính mình”.
Khi ai đó nói “mệnh anh là…”, hỏi lại: “theo nạp âm hay theo cung phi?” Một người làm nghề đàng hoàng trả lời được ngay.
Còn những “mệnh” khác
Ngoài hai hệ này, còn có mệnh trong tử vi (cung mệnh trên lá số, tính theo ngày giờ sinh), hành của thiên can năm sinh, hành của địa chi năm sinh. Mỗi cái lại một kết quả. Biết rằng có nhiều hệ dùng chung chữ “mệnh” là đủ để không hoảng khi nghe hai lời khác nhau.
Năm sinh nào thì tính theo năm âm nào
Cả hai hệ đều cần biết năm sinh theo can chi. Người sinh vào tháng một, đầu tháng hai dương lịch phải kiểm xem lúc đó đã qua mốc chuyển năm chưa. Mốc này với nạp âm và tuổi thường lấy theo Tết âm; với cung phi, nhiều người làm Bát Trạch lại lấy theo tiết Lập Xuân. Hai mốc này không trùng nhau mỗi năm, nên người sinh trong khoảng giữa chúng có thể bị tính khác năm tuỳ hệ. Mục này đã có bài riêng về sinh sát giao thừa và chỗ hay tính nhầm. Ở đây chỉ nhắc: khi tra, ghi luôn ngày sinh dương lịch đầy đủ, đừng chỉ ghi năm.
Một bảng nhỏ để đối chiếu
Nếu muốn tự kiểm, làm một bảng ba cột cho từng người: năm can chi, tên nạp âm, cung phi (kèm nam hay nữ). Tra nạp âm theo bảng lục thập hoa giáp; tra cung phi theo công thức hoặc bảng có ghi rõ nam nữ. Đối chiếu ít nhất hai nguồn cho mỗi cột. Cột nào hai nguồn cho kết quả khác nhau thì đánh dấu, hỏi lại người có nghề.
Ghi vào bảng cung mệnh của gia đình
Nếu đã lập bảng cung mệnh cho cả nhà như bài trước trong mục hướng dẫn, thêm hai cột riêng: “nạp âm” và “cung phi”, ghi rõ tên đầy đủ (Hải Trung Kim, cung Cấn) chứ không chỉ một chữ “Kim”, “Thổ”. Sau này ai trong nhà tra lại cũng không lẫn.
Nói gọn lại
“Mệnh” nạp âm tính theo cặp can chi năm sinh, không phân nam nữ, hay dùng cho màu sắc, vật phẩm, tuổi hợp. Cung phi tính theo năm sinh và giới tính, dùng cho hướng trong Bát Trạch. Một người có thể “mệnh Kim” mà “cung Cấn Thổ” là chuyện bình thường. Đừng lấy hành của hệ này áp vào việc của hệ kia.